CÔNG VĂN
CỦA BỘ KẾ HOẠCH
VÀ ĐẦU TƯ SỐ 3033/BKH-QLĐT
NGÀY 19 THÁNG 5 NĂM 2004 VỀ
VIỆC CHẤN CHỈNH
THỰC HIỆN QUY CHẾ ĐẤU
THẦU
Kính gửi: - Các Bộ, Cơ
quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc
Chính phủ
- UBND các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương
Trong thời gian qua, với sự
quan tâm của các Bộ, ngành
và địa phương, công
tác đấu thầu nói chung
đã và đang đạt được
những thành tích khả quan,
góp phần quan trọng vào việc
tăng cường hiệu
quả thực hiện các dự
án. Tuy nhiên, qua kiểm tra công
tác đấu thầu và phản
ánh của các phương tiện
thông tin đại chúng, Bộ
Kế hoạch và Đầu
tư xin lưu ý một số
vấn đề sau:
I. MỘT SỐ TỒN
TẠI TRONG CÔNG TÁC ĐẤU
THẦU
1. Về hồ sơ mời
thầu
Hồ sơ mời thầu
của một số gói thầu
có những nội dung quy định
chưa phù hợp với Quy
chế đấu thầu, như:
+ Hồ sơ mời thầu
vẫn nêu yêu cầu cụ thể
về nguồn gốc xuất
xứ của hàng hoá, vật
tư, thiết bị hoặc
ký mã hiệu của thiết
bị.
Trong khi Quy chế Đấu
thầu quy định là trong
hồ sơ mời thầu
không được nêu yêu cầu
về thương hiệu hoặc
nguồn gốc cụ thể
đối với gói thầu
mua sắm hàng hoá, không được
nêu yêu cầu về thương
hiệu hoặc nguồn gốc
vật tư, thiết bị
đối với gói thầu
xây lắp (điểm 2 khoảng
12 và khoản 14 Điều 1
Nghị định 66/2003/NĐ-CP
ngày 12/06/2003 của Chính phủ);
+ Quy định thời gian
tối thiểu chuẩn bị
hồ sơ dự thầu ngắn
hơn so với quy định
của Quy chế Đấu
thầu.
Trong Quy chế Đấu thầu
quy định thời gian chuẩn
bị hồ sơ dự thầu
tối thiểu là 15 ngày đối
với đấu thầu trong
nước, 7 ngày đối
với gói thầu quy mô nhỏ
và 30 ngày đối với đấu
thầu quốc tế (khoản
1 Điều 12 Nghị định
88/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 của
Chính phủ);
+ Quy định giá bán hồ
sơ mời thầu cao hơn
500.000 đồng/bộ
Trong Quy chế Đấu thầu
quy định đối với
đấu thầu trong nước,
giá bán một bộ hồ sơ
mời thầu không được
quá 500.000 đồng (khoản
1 Điều 57 Nghị định
88/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 của
Chính phủ);
+ Một số nội dung khác
Việc quy định quá nhiều
điều kiện tiên quyết
để loại bỏ hồ
sơ dự thầu (có trường
hợp đưa tới trên
20 điều kiện tiên quyết)
hoặc đưa ra yêu cầu
quá cao gây khó khăn cho việc
lựa chọn nhà thầu thậm
chí dẫn đến việc
không thể lựa chọn được
nhà thầu trúng thầu theo yêu
cầu. Bên cạnh đó, tình
trạng thiếu thống nhất
giữa tiêu chuẩn đánh
giá hồ sơ dự thầu
và các yêu cầu nêu trong hồ
sơ mời thầu gây khó khăn
cho việc đánh giá hồ
sơ dự thầu, không đảm
bảo tính công bằng, minh bạch
trong đấu thầu vẫn
tồn tại ở một
số trường hợp.
2. Về đánh giá hồ sơ
dự thầu
Việc đánh giá hồ sơ
dự thầu của tổ
chuyên gia/tư vấn xét thầu
trong một số trường
hợp chưa bám sát các yêu cầu
cũng như tiêu chuẩn đánh
giá nêu trong hồ sơ mời
thầu từ đó đưa
ra các kết luận thiếu
căn cứ xác đáng. Việc
xử lý các tình huống trong
đấu thầu (thông qua các
đề nghị của tổ
chuyên gia, cơ quan thẩm định
cũng như quyết định
của người/cấp có
thẩm quyền) ở một
số trường hợp chưa
phù hợp với Quy chế
Đấu thầu.
3. Về áp dụng hình thức
lựa chọn nhà thầu
Việc lạm dụng hình thức
đấu thầu hạn chế,
chỉ định thầu là
nguyên nhân cơ bản của
tình trạng đấu thầu
hình thức, do vậy làm giảm
hiệu quả của công tác
đầu thầu. Ngoài ra, trong
một số trường hợp
quy trình tổ chức đấu
thầu, chỉ định
thầu còn đơn giản,
thiếu cơ sở pháp lý.
Trong Thông tư hướng dẫn
thực hiện Quy chế Đấu
thầu quy định quy trình
chỉ định thầu được
thực hiện tương
tự theo quy trình đấu
thầu cho một gói thầu.
Cụ thể, khi thực hiện
chỉ định thầu đã
được người
có thẩm quyền cho phép trong
kế hoạch đấu thầu,
chủ dự án phải đưa
ra các yêu cầu đối với
gói thầu (tương tự
như hồ sơ mời thầu),
đơn vị được
đề nghị chỉ định
thầu căn cứ yêu cầu
của chủ dự án chuẩn
bị các giải pháp thực
hiện, các đề xuất
về tài chính, thương mại
(tương tự như hồ
sơ dự thầu) để
chủ dự án đánh giá theo
tiêu chuẩn đánh giá (mục
I phần 8 Thông tư 01/2004/TT-BKH
ngày 02/02/2004 của Bộ Kế
hoạch và Đầu tư).
4. Về trình độ cán bộ
thực hiện công tác đấu
thầu
Năng lực đội ngũ
cán bộ làm công tác đấu
thầu ở một số
nơi còn hạn chế, chưa
nắm vững các quy định
về đấu thầu của
Nhà nước (Quy chế Đấu
thầu và các văn bản hướng
dẫn thực hiện) do chưa
tích cực nghiên cứu, tìm hiểu
Quy chế Đấu thầu,
chưa có điều kiện
tham gia các lớp tập huấn,
có nơi còn sử dụng theo
suy nghĩ chủ quan hơn
là các cơ sở pháp lý (quy chế
Đấu thầu, hồ sơ
mời thầu, tiêu chuẩn
đánh giá...).
II. CÁC BIỆN PHÁP KHẮC
PHỤC
Để khắc phục các
tồn tại nêu trên, với
chức năng là cơ quan quản
lý nhà nước về đấu
thầu, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư đề
nghị các Bộ, ngành và địa
phương cần triển
khai các biện pháp sau đây:
1. Chấp hành nghiêm chỉnh
các quy định của nhà
nước về đấu
thầu
- Áp dụng chủ yếu là
hình thức đấu thầu
rộng rãi trong các dự án thuộc
phạm vi và trách nhiệm quản
lý của mình;
- Không được nêu yêu cầu
cụ thể về nguồn
gốc, ký mã hiệu, thương
hiệu của hàng hoá, vật
tư, thiết bị trong hồ
sơ mời thầu;
- Đảm bảo các mốc
thời gian trong đấu thầu
như: đấu thầu rộng
rãi phải được thông
báo 10 ngày trước khi phát
hành hồ sơ mời thầu,
thời gian chuẩn bị hồ
sơ dự thầu tối
thiểu là 15 ngày đối
với đấu thầu trong
nước, 30 ngày đối
với đấu thầu quốc
tế;
- Không được bán hồ
sơ mời thầu vượt
quá mức 500.000 đồng/bộ
(đối với đấu
thầu trong nước);
- Không sử dụng giá xét thầu,
giá sàn trong đánh giá hồ sơ
dự thầu;
- Sau khi đóng thầu, nhà thầu
không được pbép bổ
sung nội dung hồ sơ dự
thầu, kể cả thư
giảm giá;
- Tư vấn không được
tham dự thực hiện các
gói thầu mua sắm hàng hoá
và xây lắp do mình làm tư vấn;
- Chuyên gia xét thầu không được
tham gia thẩm định kết
quả đấu thầu trong
cùng một gói thầu.
- Đánh giá hồ sơ dự
thầu theo đúng hồ sơ
mời thầu và tiêu chuẩn
đánh giá trong hồ sơ mời
thầu.
2. Tăng cường năng
lực thực hiện công tác
đấu thầu
Tăng cường phổ biến,
hướng dẫn thực
hiện Quy chế Đấu
thầu thông qua tổ chức
tập huấn bồi dưỡng
nghiệp vụ đấu thầu
cho các tổ chức/cá nhân được
giao nhiệm vụ thực hiện
công tác đấu thầu, đồng
thời lựa chọn và bố
trí cán bộ đủ phẩm
chất, năng lực và am
hiểu các quy định của
Nhà nước về đấu
thầu để tham gia thực
hiện công tác đấu thầu.
3. Tăng cường quản
lý nhà nước về đấu
thầu
Các cơ quan quản lý nhà nước
cấp Bộ, ngành và địa
phương cần cử một
cấp phó trực tiếp chỉ
đạo công tác đấu
thầu theo quy định của
Quy chế Đấu thầu
(khoản 3 và 4 Điều 49
Nghị định 88/1999/NĐ-CP
ngày 01/09/1999 của Chính phủ).
Nâng cao chất lượng công
tác thẩm định kế
hoạch đấu thầu,
hồ sơ mời thầu
và kết quả lựa chọn
nhà thầu của các đơn
vị thẩm định. Đối
với các dự án cho Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh phê duyệt, Sở Kế
hoạch và Đầu tư
phải là cơ quan thẩm
định kế hoạch đấu
thầu và kết quả lựa
chọn nhà thầu trước
khi người có thẩm quyền
phê duyệt; trong trường
hợp thẩm định hồ
sơ mời thầu, cơ
quan thẩm định có thể
là Sở Kế hoạch và Đầu
tư hoặc một đơn
vị chuyên ngành của địa
phương (điểm 2 khoản
20 Điều 1 Nghị định
66/2003/NĐ-CP ngày12/06/2002 của
Chính phủ và mục V phần
8 Thông tư 01/2004/TT-BKH ngày 02/02/2004
của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư). Riêng đối
với việc thực hiện
công tác đấu thầu tại
các công ty cổ phần, Bộ
Kế hoạch và Đầu
tư đã có văn bản
số 2035/BKH-QLĐT ngày 07/04/2004
gửi các Bộ, ngành và địa
phương về việc yêu
cầu chấn chỉnh kịp
thời các hoạt động
đấu thầu trong lĩnh
vực này.
4. Tăng cường công tác
kiểm tra, thanh tra đấu
thầu
Các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương khẩn
trương thành lập Thanh
tra Sở tại Sở Kế
hoạch và Đầu tư
theo yêu cầu của Chỉ
thị 29/2003/CT-TTg ngày 23/12/2003
của Thủ tướng Chính
phủ (về việc chấn
chỉnh quản lý đầu
tư xây dựng bằng nguồn
vốn nhà nước) và văn
bản hướng dẫn số
1895 BKH/TTr-TCCB ngày 02/04/2004 của
Bộ Kế hoạch và Đầu
tư. Đề nghị các
Bộ, ngành và địa phương
chỉ đạo tăng cường
kiểm tra, thanh tra công tác đấu
thầu trong phạm vi ngành,
địa phương mình để
kịp thời ngăn chặn,
phát hiện và xử lý các sai
phạm (nếu có).
Bộ Kế hoạch và Đầu
tư đề nghị Lãnh
đạo các Bộ, ngành và
địa phương tập
trung chỉ đạo chấn
chỉnh công tác đấu thầu
trong phạm vi ngành và địa
phương mình, đảm
bảo mục tiêu của công
tác đấu thầu là cạnh
tranh, công bằng, minh bạch
và hiệu quả kinh tế.