Chương II
QUY HOẠCH, PHÂN BỔ TẦN
SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN
Điều 5. Quy hoạch
phổ tần số vô tuyến
điện
1. Quy hoạch phổ tần
số vô tuyến điện
quốc gia là phương án
phân chia phổ tần số
vô tuyến điện thành các
băng tần dành cho các nghiệp
vụ theo từng thời kỳ
và quy định điều
kiện để thiết lập
trật tự khai thác, sử
dụng tối ưu phổ
tần số vô tuyến điện
trên phạm vi cả nước.
Bộ Bưu chính, Viễn thông
xây dựng, trình Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Quy hoạch
phổ tần số vô tuyến
điện quốc gia.
2. Căn cứ Quy hoạch
phổ tần số vô tuyến
điện quốc gia, Bộ
Bưu chính, Viễn thông ban hành
quy hoạch băng tần, quy
hoạch kênh, quy hoạch tần
số vô tuyến điện
theo vùng.
a) Quy hoạch băng tần
quy định chi tiết các
điều kiện, mục
đích sử dụng một
số đoạn băng tần
cho một loại nghiệp
vụ vô tuyến điện
hoặc hệ thống thông
tin vô tuyến điện cụ
thể. Quy hoạch băng tần
được xây dựng trên
cơ sở công nghệ sử
dụng, định mức
số lượng băng tần
cần thiết, nhu cầu phát
triển dịch vụ và dự
phòng băng tần cho công nghệ
mới, nhu cầu mới.
b) Quy hoạch kênh phân chia mỗi
băng tần thành các nhóm kênh
tần số cho một loại
nghiệp vụ vô tuyến điện
cụ thể theo một hệ
thống tiêu chuẩn kỹ
thuật nhất định.
Quy hoạch kênh được
xây dựng trên cơ sở các
khuyến nghị phân kênh, các
tiêu chuẩn kỹ thuật
của Liên minh Viễn thông quốc
tế để thiết lập
trật tự sử dụng
kênh tần số vô tuyến
điện, hạn chế nhiễu
có hại giữa các thiết
bị vô tuyến điện.
c) Quy hoạch tần số
vô tuyến điện theo vùng
xác lập các vùng sử dụng
lại tần số cho một
loại nghiệp vụ vô tuyến
điện cụ thể ở
một số đoạn băng
tần trong dải tần số
từ ba mươi Mêgahéc (30
MHz) đến ba nghìn Mêgahéc (3000
MHz). Quy hoạch tần số
vô tuyến điện theo vùng
được xây dựng trên
cơ sở các khuyến nghị,
các tiêu chuẩn kỹ thuật
của Liên minh Viễn thông quốc
tế để nâng cao hiệu
quả sử dụng phổ
tần số vô tuyến điện,
hạn chế nhiễu có hại
giữa các thiết bị vô
tuyến điện.
Điều 6. Thực
hiện quy hoạch
1. Nghiêm cấm việc sản
xuất, nhập khẩu hoặc
sử dụng thiết bị
vô tuyến điện, thiết
bị ứng dụng sóng vô
tuyến điện tại
Việt Nam trái với quy hoạch
(trừ thiết bị thuộc
diện tạm nhập tái xuất;
thiết bị được
sản xuất để xuất
khẩu; thiết bị để
giới thiệu công nghệ
trong triển lãm, hội chợ).
2. Các quy hoạch phát triển
điện tử, viễn thông,
phát thanh, truyền hình và quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội
khác có liên quan đến việc
sử dụng tần số
vô tuyến điện trước
khi trình Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt phải được
Bộ Bưu chính, Viễn thông
thẩm định về phần
tần số vô tuyến điện.
3. Đối với các thiết
bị vô tuyến điện
và mạng lưới viễn
thông sử dụng tần số
vô tuyến điện từ
trước khi Quy hoạch có
hiệu lực mà không phù hợp
với Quy hoạch, Bộ Bưu
chính, Viễn thông quy định
cụ thể biện pháp, thời
hạn chuyển đổi
thiết bị, tần số
để phù hợp với
Quy hoạch và điều kiện
sử dụng thực tế
của Việt Nam theo nguyên tắc:
a) Trường hợp thiết
bị có khả năng điều
chỉnh về làm việc ở
tần số theo quy hoạch
mà không cần kinh phí chuyển
đổi, tổ chức, cá
nhân phải làm thủ tục
chuyển đổi theo thời
hạn quy định tại
Quy hoạch.
b) Trường hợp thiết
bị không có khả năng
điều chỉnh về làm
việc ở tần số
theo quy hoạch hoặc thiết
bị có khả năng điều
chỉnh tần số nhưng
cần kinh phí chuyển đổi:
- ở các băng tần, khu
vực có nhu cầu thấp
trong việc sử dụng tần
số, tổ chức, cá nhân
được phép khai thác đến
hết thời gian khấu hao
thiết bị, nhưng không
quá 07 năm, kể từ ngày
Quy hoạch có hiệu lực,
hoặc cho đến khi Bộ
Bưu chính, Viễn thông yêu cầu
ngừng khai thác vì lý do can nhiễu.
Việc thay thế thiết
bị do bị hỏng hoặc
mở rộng mạng không làm
thay đổi thời hạn
phải ngừng khai thác của
toàn mạng.
- ở các băng tần, khu
vực có nhu cầu cao trong việc
sử dụng tần số,
tổ chức, cá nhân phải
làm thủ tục chuyển đổi
theo thời hạn quy định
tại Quy hoạch và phải
chịu kinh phí chuyển đổi.
c) Tổ chức, cá nhân bị
thu hồi băng tần trước
thời hạn quy định
tại Quy hoạch sẽ được
thanh toán một phần kinh phí,
nhưng không vượt quá giá
trị còn lại của thiết
bị tại thời điểm
thu hồi băng tần. Tổ
chức, cá nhân được
cấp phép sử dụng các
băng tần thu hồi này
có trách nhiệm thanh toán kinh phí
chuyển đổi cho tổ
chức, cá nhân bị thu hồi
băng tần.
Điều 7. Điều
chỉnh quy hoạch
1. Căn cứ vào chính sách
phát triển viễn thông quốc
gia, pháp luật Việt Nam và
các Điều ước quốc
tế mà Việt Nam ký kết
hoặc gia nhập trong lĩnh
vực viễn thông và tần
số vô tuyến điện,
Bộ Bưu chính, Viễn thông
thực hiện việc điều
chỉnh theo thẩm quyền
hoặc trình cấp có thẩm
quyền phê duyệt điều
chỉnh Quy hoạch phổ
tần số vô tuyến điện
theo từng thời kỳ.
2. Nội dung sửa đổi,
điều chỉnh Quy hoạch
phổ tần số vô tuyến
điện sau khi được
cấp có thẩm quyền ban
hành là một phần của
Quy hoạch đó.
Điều 8. Phân bổ
băng tần phục vụ
quốc phòng, an ninh
1. Việc phân bổ băng
tần phục vụ mục
đích quốc phòng, an ninh được
thực hiện theo các nguyên
tắc sau:
a) Các băng tần sử dụng
lâu dài được phân bổ
theo tỷ lệ phù hợp với
yêu cầu, nhiệm vụ và
có chú ý đến thông lệ
quốc tế;
b) Các băng tần sử
dụng có thời hạn chỉ
áp dụng đối với
các thiết bị vô tuyến
điện hiện đang sử
dụng nhưng không trang bị
tiếp;
c) Các băng tần sử
dụng không thường xuyên
trong thời gian ngắn, khi
sử dụng phải thông báo
cho Bộ Bưu chính, Viễn
thông, trừ trường hợp
thuộc danh mục bí mật
nhà nước;
d) Khi có nhu cầu sử dụng
băng tần dành cho mục
đích kinh tế - xã hội
vào mục đích quốc phòng,
an ninh phải được
sự đồng ý bằng
văn bản của Bộ
Bưu chính, Viễn thông và không
được gây nhiễu có
hại cho mạng thông tin phục
vụ kinh tế - xã hội.
2. Theo từng thời kỳ,
Bộ Bưu chính, Viễn thông
chủ trì, phối hợp với
Bộ Quốc phòng, Bộ Công
an đề xuất việc
phân bổ băng tần phục
vụ mục đích quốc
phòng, an ninh, trình Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt sau khi
có ý kiến của ủy ban
Tần số vô tuyến điện.Bộ
Quốc phòng, Bộ Công an có
trách nhiệm tổ chức
quản lý, sử dụng tiết
kiệm, hiệu quả đúng
mục đích các băng tần
số được phân bổ.
3. Trong trường hợp
khẩn cấp về an ninh
quốc gia, Bộ Quốc phòng,
Bộ Công an được
sử dụng một số
băng tần không thuộc
quy định ở điểm
a khoản 1 Điều này để
đảm bảo thông tin phục
vụ quốc phòng, an ninh trên
cơ sở phối hợp
theo phương án thống nhất
giữa Bộ Bưu chính, Viễn
thông và Bộ Quốc phòng, Bộ
Công an.